Thực trạng, cung – cầu, nhập khẩu than: Thách thức và chính sách phát triển [Kỳ 3]

05:45 |15/06/2020 –  Kết quả tính toán cho thấy, vào năm 2020, Việt Nam phải nhập khẩu than cho sản xuất điện khoảng 25 triệu tấn; 50 triệu tấn vào năm 2025; 80 triệu tấn vào năm 2030 và khoảng 88 triệu tấn vào năm 2035…  Thực trạng, cung – cầu, nhập khẩu than: Thách thức và chính sách phát triển [Kỳ 1]Thực trạng, cung – cầu, nhập khẩu than: Thách thức và chính sách phát triển [Kỳ 2] III. Nguồn cung sản xuất than trong nước Trên cơ sở lịch khai thác được lập theo QH403 rà soát và xem xét huy…

05:45 |15/06/2020 – 
Kết quả tính toán cho thấy, vào năm 2020, Việt Nam phải nhập khẩu than cho sản xuất điện khoảng 25 triệu tấn; 50 triệu tấn vào năm 2025; 80 triệu tấn vào năm 2030 và khoảng 88 triệu tấn vào năm 2035… 

Thực trạng, cung – cầu, nhập khẩu than: Thách thức và chính sách phát triển [Kỳ 1]Thực trạng, cung – cầu, nhập khẩu than: Thách thức và chính sách phát triển [Kỳ 2]

III. Nguồn cung sản xuất than trong nước

Trên cơ sở lịch khai thác được lập theo QH403 rà soát và xem xét huy động sản lượng tới 2035, qua đó xác định được sản lượng than nguyên khai toàn ngành và than tương phẩm toàn ngành.

Bảng 3 – Sản lượng than toàn ngành:

TT

Danh mục

Năm

2020

2025

2030

2035

I

THAN NGUYÊN KHAI

50 712

55 788

59 930

61 872

a

Tập đoàn TKV

40 000

43 088

44 440

46 175

b

TCT Đông Bắc

7 442

6 380

5 700

4 450

c

Các mỏ mới vùng Đông Bắc

1 750

4 200

4 200

d

Các mỏ than địa phương & than bùn

2 620

4 540

4 090

4 047

e

Bể than ĐBSH

30

1 500

3 000

II

THAN THƯƠNG PHẨM

44 313

49 415

53 130

54 795

Qua lịch bố trí sản lượng cho thấy, các khoáng sàng than có tiềm năng đã bố trí các mỏ với công suất phù hợp, kể cả các mỏ mới vùng Đông Bắc – những vùng trắng và trống ở bể than Đông Bắc chưa tiến hành thăm dò tài nguyên. Đây là sản lượng tối đa ngành than có thể huy động với mục tiêu phát triển bền vững với điều kiện TKV và TCT Đông Bắc được cấp phép, thăm dò và cấp phép khai thác đúng tiến độ theo quy hoạch. Cạnh đó, doanh nghiệp đảm bảo áp dụng công nghệ khai thác tiên tiến, huy động đủ vốn đầu tư phát triển mỏ và được hỗ trợ về cơ chế chính sách, thuế phí hợp lý… để phát triển.

Trên cơ sở sản lượng quy hoạch của từng khoáng sàng, từng mỏ qua các qua các sàng mỏ và nhà máy sàng tuyển khu vực thu được than thương phẩm. Than thương phẩm sản xuất trong nước theo quy hoạch là nguồn cung có khả năng cân đối nhu cầu than trong nước (than thương phẩm không bao gồm than các mỏ than bùn địa phương, than ĐBSH/than thương phẩm toàn ngành) đạt 43/44 triệu tấn (2020); 46/49 triệu tấn (2025); 48/53 triệu tấn (2030) và 49/55 triệu tấn (2035).

Hình 7 – Quy hoạch sản lượng than sản xuất trong nước:

TT

Chủng loại than

2020

2025

2030

2035

A

Than nguyên khai

50 062

55 788

59 930

61 872

B

Than thương phẩm

44 313

49 415

53 130

54 795

C

Than có thể cân đối

42 888

46 538

48 930

49 245

IV. Cân đối cung cầu và nhu cầu nhập khẩu than

Việc cân đối than cho các hộ tiêu thụ trong nước được thực hiện theo nguyên tắc: Ưu tiên cấp tối đa than cho sản xuất điện (bao gồm các chủng loại than cám 4b, cám 5, cám 6, cám 7); than còn lại cân đối cho các hộ theo thứ tự ưu tiên là phân bón – hóa chất – xi măng – các hộ khác. Riêng luyện kim sử dụng than cốc nên cân đối hết các nguồn than cốc trong nước sản xuất được cho luyện kim, còn thiếu sẽ nhập khẩu.

Kết quả cân đối than:

Căn cứ vào tổng lượng than cân đối và nguyên tắc cân đối than và kế hoạch phân phối than cho các hộ tiêu thụ xác định được khả năng cấp than và lượng than thiếu cho từng hộ, qua chi tiết cho thấy:

Trong tổng số than thương phẩm sản xuất, than tiêu chuẩn để cấp cho sản xuất điện chiếm khoảng 80% (năm 2020 khoảng 35 triệu tấn, năm 2025: 36,3 triệu tấn, năm 2030: 39,8 triệu tấn và năm 2035: 39,5 triệu tấn).

Than trong nước chỉ đủ nguồn cung cho 17 nhà máy nhiệt điện (NMNĐ) sử dụng antraxit trong nước như: Phả lại 1, 2; Uông Bí 1, mở rộng 1 và 2; Ninh Bình; Na Dương 1 và 2; Cao Ngạn; Cẩm Phả 1 và 2; Sơn Động; Mạo Khê; Mông Dương 1 và 2; Quảng Ninh 1 và 2; Hải Phòng 1 và 2; Nông Sơn và 12 NMNĐ sử dụng pha trộn antraxit trong nước và nhập khẩu: An Khánh 1; Thái Bình 1 và 2; Hải Dương; Nam Định 1; An Khánh – Bắc Giang; Thăng Long; Vũng Ánh 1; Nghi Sơn 1; Vĩnh Tân 1 và 2; Duyên Hải 1.

Còn lại 28 NMNĐ phải sử dụng 100% than bitum, á bitum nhập khẩu: Hải Phòng 3; Quảng Ninh 3; Nghi Sơn 2; Công Thanh; Vũng Áng 2 và 3; Quảng Trách 1 và 2; Quỳnh Lập 1 và 2; Quảng Trị; Fonmosa – Hà Tĩnh; Hải Hà – Đồng Phát; Vĩnh Tân 3; Duyên Hải 2 và 3; Vân Phong 1; Long Phú 1 – 2 và 3; Sông Hậu 1 và 2; Long An 1 và 2; Vĩnh Tân 4; Fonmosa – miền Nam; Than miền Nam.

Hình 8 – Cân đối cung cầu than trong nước, cho điện và nhập khẩu than:

TT

Danh mục

2020

2025

2030

2035

A

Tổng nhu cầu than

81.285

110.916

144.658

153.119

A1

Trong đó: Nhu cầu than cho điện

59.470

86.008

119.368

127.502

B

Cung than trong nước

42.888

46.538

48.930

49.245

B1

Trong đó: Cung than cho điện

34.916

36.335

39.841

39.491

C

Xuất khẩu dự kiến

2.050

2.050

2.050

2.055

D

Tổng than nhập

40.447

66.428

97.779

105.929

D1

Cho các hộ ngoài điện

15.893

16.755

18.251

17.918

D2

Cho điện

24.554

49.673

79.527

88.011

Như vậy, Việt Nam phải nhập khẩu than cho sản xuất điện khoảng 25 triệu tấn vào năm 2020; khoảng 50 triệu tấn vào năm 2025 (trong đó, các NMNĐ BOT tự thu xếp khoảng 25 triệu tấn); khoảng 80 triệu tấn vào năm 2030 (trong đó, các NMNĐ BOT tự thu xếp khoảng 40 triệu tấn) và khoảng 88 triệu tấn vào năm 2035 (trong đó, các NMNĐ BOT tự thu xếp khoảng 43 triệu tấn). Từ năm 2020 trở đi, việc phát triển nhiệt điện than phụ thuộc nhiều vào việc thu xếp nguồn than nhập khẩu.

Mặc dù khối lượng than nhập cho điện lớn, nhưng các chủ đầu tư NMNĐ BOT tự chịu trách nhiệm nhập than tới 50% nhu cầu, các NMNĐ chủ yếu do các tập đoàn lớn làm chủ đầu tư như: PVN, EVN, TKV và một số công ty tư nhân hoặc/và một số doanh nghiệp nước ngoài đầu tư. Các Tập đoàn PVN, EVN đều đã tự chủ động đi tìm nguồn cung cấp than cho các NMNĐ do mình làm chủ đầu tư. Một số công ty tư nhân và một số đơn vị nước ngoài đều tự chủ động tìm kiếm nguồn cung cấp than cho mình, chỉ còn lại một số NMNĐ do TKV, một số NMNĐ của các doanh nghiệp khác, hoặc doanh nghiệp nước ngoài làm chủ đầu tư nếu có cam kết với TKV cấp than thì TKV sẽ nhập khẩu để cung ứng than theo hợp đồng.

Trong cơ cấu huy động các nguồn năng lượng sẽ tác động tới nhu cầu than cho các NMNĐ. Khi nguồn thủy điện đã huy động tối đa, điện nguyên tử đã tạm dừng; nguồn thủy điện vừa và nhỏ đã cân đối hạn chế tác động tới môi trường; chương trình tiết kiệm và sử dụng hiệu quả điện năng đã được tính đến mức hợp lý thì ảnh hưởng tới nhu cầu điện than chỉ còn lại nguồn năng lượng tái tạo và nhiệt điện sử dùng dầu, khí và nhiên liệu hóa lỏng. Khi kịch bản dựa vào than nhập khẩu tiềm ẩn nguy cơ rủi ro thì cũng chỉ còn dựa vào nhiệt điện khí và khí hóa lỏng./.

(Đón đọc kỳ tới…)

TS. NGUYỄN TIẾN CHỈNH – HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM

Tài liệu tham khảo:

1. Quyết định số 403/QĐ-TTg ngày 14/03/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch phát triển ngành than Việt Nam đến năm 2020, có xét triển vọng đến năm 2030.

2. Viện Năng lượng, 2016, “Quy hoạch phát triển năng lượng Việt Nam đến 2025, có xét đến 2035″.

You may have missed