Những vấn đề cần ưu tiên trong ‘Chiến lược phát triển năng lượng’ [Kỳ 16]

07:18 |12/04/2020 –  Sau khi Bộ Chính trị công bố Nghị quyết 55 của về định hướng chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam, nhiều cơ quan báo chí quốc tế quan tâm đưa tin, bình luận. Trong đó, đáng chú ý nhất là bài phỏng vấn của Tạp chí Nghiên cứu Việt Mỹ (thuộc Đại học Oregon – Hoa Kỳ) với TS. Tô Văn Trường (*). Được sự đồng ý của tác giả, Tạp chí Năng lượng Việt Nam xin dẫn lại nội dung cuộc phỏng vấn dưới đây để bạn đọc cùng tham khảo. Những vấn…

07:18 |12/04/2020 – 
Sau khi Bộ Chính trị công bố Nghị quyết 55 của về định hướng chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam, nhiều cơ quan báo chí quốc tế quan tâm đưa tin, bình luận. Trong đó, đáng chú ý nhất là bài phỏng vấn của Tạp chí Nghiên cứu Việt Mỹ (thuộc Đại học Oregon – Hoa Kỳ) với TS. Tô Văn Trường (*). Được sự đồng ý của tác giả, Tạp chí Năng lượng Việt Nam xin dẫn lại nội dung cuộc phỏng vấn dưới đây để bạn đọc cùng tham khảo.

Những vấn đề cần ưu tiên trong ‘Chiến lược phát triển năng lượng’ [Kỳ 1]Những vấn đề cần ưu tiên trong ‘Chiến lược phát triển năng lượng’ [Kỳ 2]Những vấn đề cần ưu tiên trong ‘Chiến lược phát triển năng lượng’ [Kỳ 3]Những vấn đề cần ưu tiên trong ‘Chiến lược phát triển năng lượng’ [Kỳ 4]Những vấn đề cần ưu tiên trong ‘Chiến lược phát triển năng lượng’ [Kỳ 5]Những vấn đề cần ưu tiên trong ‘Chiến lược phát triển năng lượng’ [Kỳ 6]Những vấn đề cần ưu tiên trong ‘Chiến lược phát triển năng lượng’ [Kỳ 7]Những vấn đề cần ưu tiên trong ‘Chiến lược phát triển năng lượng’ [Kỳ 8]Những vấn đề cần ưu tiên trong ‘Chiến lược phát triển năng lượng’ [Kỳ 9]Những vấn đề cần ưu tiên trong ‘Chiến lược phát triển năng lượng’ [Kỳ 10]Những vấn đề cần ưu tiên trong ‘Chiến lược phát triển năng lượng’ [Kỳ 11]Những vấn đề cần ưu tiên trong ‘Chiến lược phát triển năng lượng’ [Kỳ 12]Những vấn đề cần ưu tiên trong ‘Chiến lược phát triển năng lượng’ [Kỳ 13]Những vấn đề cần ưu tiên trong ‘Chiến lược phát triển năng lượng’ [Kỳ 14]Những vấn đề cần ưu tiên trong ‘Chiến lược phát triển năng lượng’ [Kỳ 15]
KỲ 16: NGHỊ QUYẾT 55 VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ TRUYỀN THÔNG QUỐC TẾ QUAN TÂM

1/ Nghị quyết 55 đặt vấn đề thúc đẩy xoá bỏ độc quyền mua bán điện. Xin ông cho biết quan điểm của mình về cách thức xoá bỏ độc quyền mua bán điện, đặc biệt trong bối cảnh Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) nắm cả hệ thống sản xuất, truyền tải và cung ứng điện?

TS. Tô Văn Trường: EVN là doanh nghiệp nhà nước nắm độc quyền về truyền tải và bán điện do nhà nước hiện đang muốn thông qua EVN để có thể bán điện với giá có điều khiển, khống chế phù hợp với tình hình phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.

Khi chuyển đổi một doanh nghiệp sang cơ chế thị trường hoàn toàn thì doanh nghiệp đó sẽ hoạt động theo nguyên lý thị trường. Tuy nhiên, hệ thống truyền tải điện, nhiều nhà máy thủy điện, nhiệt điện là vốn đầu tư từ nhà nước và chưa dễ để có thể hóa giá trở thành tài sản của một doanh nghiệp cổ phần hoàn chỉnh.

Giá truyền tải điện hiện nay đang tính đồng giá trên cả nước mà chưa tính được truyền tải từ đâu đến đâu thì giá cả thế nào. Giá bán điện thì đồng nhất trên cả nước, nhưng giá mua điện thì thủy điện rẻ nhất, nhiệt điện than ở mức trung bình, nhiệt điện khí, dầu, năng lượng tái tạo (mặt trời, gió) thì đắt hơn.

Là một doanh nghiệp nắm phần lớn nguồn phát điện giá rẻ như thủy điện, EVN có trọng trách lớn trong việc bình ổn giá điện. Nếu vào thế cạnh tranh bán thì các doanh nghiệp khác chắc chắn phải bán với giá cao hơn.

Như vậy, trong thời điểm hiện tại giá điện đang rẻ vì chưa tính đủ giá truyền tải, nhà nước đang có những chính sách để bình ổn giá điện.

Trong tương lai, có thể có thị trường tự do hơn được xây dựng dựa trên cơ sở tính đúng, tính đủ giá truyền tải, đồng thời xã hội hóa thêm mạng lưới truyền tải, nhưng trước tiên, các yếu tố kỹ thuật xuyên suốt phải đảm bảo trước khi cho mua bán cạnh tranh hoàn toàn. Điều này là đúng với tất cả các nước.

Xin lưu ý, hiện nay EVN không còn độc quyền trong lĩnh vực phát điện nữa. Các nhà máy điện của EVN trừ các dự án thuỷ điện đa mục tiêu, đều phải tham gia thị trường điện như các nhà máy điện IPP khác.

Đối với khâu phân phối, và bán lẻ hiện nay EVN vẫn là người mua điện duy nhất, sau đó bán lại cho khách hàng cuối cùng.

Tuy nhiên, thị trường bán buôn đang vận hành thí điểm, thị trường bán lẻ đang trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và dự kiến sẽ hoạt động từ năm 2021. Khi thị trường bán lẻ đi vào hoạt động, khách hàng lớn có thể ký hợp đồng trực tiếp với các nhà máy điện mà không cần phải qua EVN nữa. Nhà nước lúc đó, chỉ độc quyền trong lĩnh vực quản lý, vận hành lưới điện truyền tải.

2/ Nghị quyết 55 đặt ra vấn đề xóa bỏ độc quyền mua bán điện và xây dựng cơ chế thu hút vốn đầu tư xây dựng vào hệ thống truyền tải điện quốc gia. Theo ông, Việt Nam cần làm gì để thực hiện được mục tiêu này?

TS. Tô Văn Trường: Thúc đẩy xóa bỏ độc quyền mua bán điện, có cơ chế thu hút vốn đầu tư xây dựng vào hệ thống truyền tải điện quốc gia là quan điểm cần thiết, nhưng điều quan trọng cần làm là xây dựng cơ chế giá truyền tải điện quốc gia. Hiện nay, Việt Nam chưa tính chi tiết giá truyền tải nên chưa xác định rõ giá điện giữa nơi sản xuất và người sử dụng. Giá phát điện thì có thể làm rõ, nhưng nếu đánh đồng về truyền tải điện cho mọi loại hình sản xuất điện thì sẽ bất cập – vì giá điện của nguồn thủy điện và than là rẻ, còn nguồn sản xuất điện từ dầu, khí thiên nhiên, năng lượng tái tạo đang đắt hơn. Khi có giá truyền tải điện rõ ràng, nhà nước sẽ dễ dàng điều chỉnh mức hỗ trợ hợp lý để khuyến khích các nguồn phát cần khuyến khích trên cơ sở rõ ràng, minh bạch

Tại Quy hoạch điện VII, giá điện mặt trời quá đắt nên trong Quyết định 1208/QĐ-TTg năm 2011 chỉ ghi “nguồn điện năng lượng tái tạo đạt 5,6%” trong cơ cấu nguồn điện năm 2020. Trong danh mục tại Phụ lục của Quyết định cũng chỉ đưa ra mục tiêu “Điện gió + năng lượng tái tạo” và không nêu rõ địa điểm và chủ đầu tư dự kiến, nên không có căn cứ quy hoạch lưới truyền tải phục vụ dạng nguồn này.

Tại Quy hoạch điện VII điều chỉnh (Quyết định 428/QĐ-TTg năm 2016) đề cập tới nguồn điện gió và điện mặt trời với mục tiêu vào năm 2020 có 800 MW điện gió và 850 MW điện mặt trời. Tuy nhiên, trong danh mục tại Phụ lục chỉ nêu tên dự án điện mặt trời Thiên Tân 1 (Ninh Thuận) 300 MW vào năm 2019, Thiên Tân 2 (Ninh Thuận) 400 MW vào năm 2020, và Thiên Tân 3 (Ninh Thuận) 300 MW vào năm 2021. Do đó, trong quy hoạch lưới truyền tải cũng chỉ dự kiến khoảng 700 MW phục vụ cho 2 dự án điện mặt trời đã nêu tên trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận (các dự án gió trước đó có đăng ký cả ở Ninh Thuận và Bình Thuận, nhưng khi triển khai chỉ có ở Bình Thuận).

Sau khi Chính phủ ban hành giá FIT điện mặt trời rất hấp dẫn thì nhiều nhà đầu tư đến Ninh Thuận đăng ký và triển khai xây dựng. Mặc dù EVN và Sở Công Thương Ninh Thuận đã cảnh báo, nhưng các nhà đầu tư chấp nhận may rủi, ký điều khoản cho phép cắt giảm công suất phát khi lưới quá tải.

Theo báo cáo của Tổng Công ty Điện lực miền Nam, chỉ riêng tuyến 110 kV Phan Rí – Tháp Chàm được quy hoạch có 300 MW, nhưng có tới 20 dự án điện mặt trời với tổng công suất 683 MW bám vào, nên bị quá tải và phải cắt giảm phụ tải.

3/ Xin ông cho biết tình hình doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào sản xuất điện: Thủ tục đầu tư có dễ không? Tại sao rất ít doanh nghiệp nước ngoài vào, ngoại trừ các công ty nhiệt điện liên doanh với Trung Quốc, trong đó Trung Quốc chiếm cổ phần chi phối?

TS. Tô Văn Trường: Nhiều doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào sản xuất điện ở Việt Nam (bao gồm các nước Mỹ, Anh, Pháp, Hàn Quốc, Trung Quốc…). Thủ tục đầu tư cũng không có gì khó khăn. Tuy nhiên, việc đầu tư sản xuất điện là đầu tư lớn – với nguồn vốn tính đến nhiều tỉ USD nên phải là những doanh nghiệp thật sự lớn họ mới làm.

Việc thu hút đầu tư không hề dễ dàng mà cũng phải có chọn lọc thông tin. Những doanh nghiệp “chém gió” cũng khá nhiều – mà đặc trưng là doanh nghiệp đăng ký kinh doanh 144.000 tỷ đồng như vừa qua đài, báo đã đưa tin. Việc đầu tư lớn thì cũng cần bám theo Quy hoạch điện và Quy hoạch phát triển phát triển kinh tế – xã hội của các địa phương, Quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất v.v… nên cũng không phải dễ dàng.

Xin lưu ý là hiện nay một dự án từ khi đề xuất tới khi thi công cũng mất gần 10 năm. Lý do là việc đàm phán giữa nhà đầu tư và các cơ quan của Việt Nam mất quá nhiều thời gian. Nguyên nhân từ cả hai phía: Việt Nam và nhà đầu tư. Các hợp đồng cần đàm phán là hợp đồng BOT, mua bán điện, cung cấp nhiên liệu, thuê đất. Nhà đầu tư thông thường muốn có nhiều sự bảo lãnh, hỗ trợ của nhà nước, giá điện cao, còn về phía các cơ quan của Việt Nam thì ngược lại, dẫn đến mất nhiều thời gian.

4/ Nghị quyết 55 có thể tạo niềm tin về chính sách cho nhà đầu tư nước ngoài hay không? Nói cụ thể hơn, thực tế là lâu nay có mối quan hệ quyền lực chéo giữa Chính phủ (Bộ Công Thương) và ngành điện (EVN): Có hiện tượng luân chuyển cán bộ qua lại giữa Bộ Công Thương và EVN. Vậy, trong hoàn cảnh đó, doanh nghiệp nước ngoài và tư nhân đầu tư sản xuất điện có khả năng kiểm soát rủi ro chính sách hay không?

TS. Tô Văn Trường: Vấn đề rủi ro chính sách luôn tồn tại, trong nhiều ngành kinh tế, chứ không chỉ ngành năng lượng. Đây là vấn đề liên quan tới định hướng chiến lược, năng lực của Chính phủ trong việc xây dựng chính sách.

Theo Nghị quyết 55 của Bộ Chính trị, Bộ Công Thương không còn chức năng đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước ở các tập đoàn như: EVN, TKV, PVN (đã chuyển chức năng nhiệm vụ này sang Ủy ban Quản lý vốn Nhà nước tại Doanh nghiệp). Bộ Công Thương chỉ quản lý nhà nước về lĩnh vực năng lượng, cho nên các tập đoàn kinh tế như EVN, TKV, PVN cũng được đối xử như các doanh nghiệp tư nhân hay doanh nghiêp nước ngoài.

5/ Ở châu Âu, cái đồng hồ điện ở mỗi căn nhà không thay đổi từ năm này qua năm khác, nhưng người sử dụng căn nhà đó có thể thay đổi dễ dàng công ty bán dòng điện chạy qua cái đồng hồ điện đó. Theo ông, Việt Nam có thể làm như vậy không? Có nên làm như vậy không? Lợi ích của nó là gì? Nó có tác hại gì không?

TS. Tô Văn Trường: Ở Việt Nam, người mua điện chỉ mua của EVN. Ở châu Âu có thể thay đổi công ty bán điện, nhưng không hề thay đổi công ty truyền tải điện. Vẫn đường dây đấy bạn có thể mua điện ở xa giá rẻ thì chi phí truyền tải lại tăng lên thôi. Ở Việt Nam có thể làm được trong tương lai khi mà giá truyền tải điện được rõ ràng. Lợi và hại thì luôn có đồng thời với nhau, nhưng để làm được điều này thì châu Âu cũng phải trải qua một thời gian dài để thiết kế các yếu tố kỹ thuật phù hợp cho việc đó. Nếu yếu tố kỹ thuật không phù hợp thì bạn có thể có chính sách đó nhưng mà không thực hiện được.

6/ Nghị quyết 55 có giải quyết vấn đề mạng lưới truyền tải điện quốc gia không? Có đặt vấn đề chia tách sản xuất và truyền tải điện?

TS. Tô Văn Trường: Theo một số chuyên gia ở Mỹ nhận xét, cạnh tranh sản xuất cung ứng điện là đúng, nhưng truyền tải cần có vai trò của nhà nước, hoặc tổ chức vô vị lợi (hay phi lợi nhuận?) như ở Mỹ trong việc xây dựng và quản lý mạng truyền tải quốc gia, và mạng truyền tải địa phương.

Đây là hệ thống quan trọng của an ninh quốc gia nhưng không thấy đề cập đến trong Nghị quyết 55.

Một vấn đề rất cần quan tâm nữa là lĩnh vực truyền tải điện và các nhà máy điện lớn có ý nghĩa quan trọng đến an ninh, an toàn, tin cậy trong điều độ hệ thống điện, Nhà nước nên độc quyền toàn bộ, kể cả hoạt động đầu tư xây dựng. Xã hội hóa lĩnh vực này sẽ rất khó khăn trong việc kiểm soát chất lượng thiết bị và duy trì an toàn truyền tải và nhà máy điện lớn. Doanh nghiệp tư nhân trong lĩnh vực này thường lấy mục tiêu tài chính là chủ yếu nên liệu có bảo đảm cho các yêu cầu về an ninh và an toàn?

7/ Khái niệm “an ninh năng lượng” (Energy security) lâu nay thường dùng để kết nối vấn đề hai vấn đề: An ninh quốc gia và tài nguyên tự nhiên, chủ yếu là dầu mỏ. Theo ông, điện có quan hệ như thế nào với vấn đề này?

TS. Tô Văn Trường: An ninh năng lượng là sự đảm bảo về nguồn cung cấp năng lượng xuyên suốt của một quốc gia. Sự phát triển của kinh tế, xã hội luôn đi kèm với sự cung cấp đủ năng lượng cho sự phát triển đó. Một người hiểu biết về năng lượng khi theo dõi các chỉ số đều thấy một quy luật chung là kinh tế phát triển đến đâu, nhu cầu năng lượng phát triển đến đó. Năng lượng là cơ sở cho mọi hoạt động của con người từ sản xuất công nghiệp đến giao thông vận tải, du lịch, văn hóa, v.v…

An ninh năng lượng có cơ sở quan trọng là an ninh trong cung cấp và truyền tải điện vì điện năng là nguồn năng lượng cơ bản có thể chuyển đổi thành hầu hết các dạng năng lượng khác.

An ninh năng lượng không phải chỉ là dầu mỏ vì dầu mỏ chỉ là một phần của năng lượng mà thôi. Nó liên quan đến điện là chủ yếu còn dầu mỏ thì chủ yếu liên quan đến lĩnh vực giao thông vận tải.

Đây cũng không phải là cái mới mà là điều quan trọng với bất kỳ quốc gia nào trong tiến trình phát triển của nó. Trong quá khứ, nó chỉ là sự đảm bảo cung cấp năng lượng, nhưng với sự phát triển của khoa học, kỹ thuật thì vấn đề sử dụng năng lượng tiết kiệm hiệu quả đóng vai trò ngày càng quan trọng đối với việc hoạch định những kế hoạch cho an ninh năng lượng.

8/ Những vấn đề mắc phải ở việc cung quá tải các dự án năng lượng mặt trời ở Ninh Thuận là do lỗi ai, từ đâu? Làm sao khắc phục? Có nhóm lợi ích nào đằng sau việc cho phép tư nhân hoá ào ạt việc cung cấp điện? Có ý kiến phán đoán rằng, các công ty Trung Quốc là chủ đầu tư các dự án này? Vậy nhà nước có nên ưu tiên cho các công ty Việt Nam (Việt Nam thực sự, không phải đội lốt)?

TS. Tô Văn Trường: Sự việc có một số dự án không giải toả được không phải do lợi ích nhóm mà do thực tế khách quan, khi giá FIT hấp dẫn dẫn tới nhiều nhà đầu tư đầu tư vào điện mặt trời. Thời gian triển khai dự án điện mặt trời lại ngắn hơn rất nhiều (chỉ 6 tháng) so với đầu tư lưới điện (mất 2-4 năm tuỳ cấp điện áp 110kV hay 220kV) nên dẫn tới quá tải.

Về các nhà đầu tư, không chỉ có các nhà đầu tư Trung Quốc mà còn từ Hàn Quốc, Ấn Độ, Thái Lan…

Bạn đừng quá thiên về các thuyết âm mưu như vậy. Các dự án điện mặt trời nhìn chung có vốn đầu tư thấp, vừa miếng với doanh nghiệp tư nhân thì họ làm thôi.

Khi doanh nghiệp tư nhân làm thì họ mong làm sao có lãi tốt và an toàn nguồn vốn. Chính sách mua điện của Việt Nam đã khuyến khích và phần nào ép họ phải xong trước một thời điểm để có thể bán điện mặt trời với giá cao. Vì thế mà nguồn cung quá tải so với khả năng truyền tải.

Khá nhiều công ty Trung Quốc đầu tư các dự án này vì họ cũng mong muốn lợi nhuận trong khi họ có nguồn cung kỹ thuật sẵn có từ trong nước. Không chỉ Việt Nam đâu, năng lượng mặt trời phát triển trên thế giới nói chung có rất nhiều sự liên quan đến các công ty Trung Quốc. Họ cũng mong muốn lợi nhuận như bất cứ ai trong cái thế giới toàn cầu hóa này. Họ đầu tư ở Việt Nam thì cũng phải tuân theo các quy định pháp luật của Việt Nam.

Thực ra phần lớn là các công ty Việt Nam đứng ra để lập dự án và thực hiện các thủ tục hành chính theo đó có các công ty Trung Quốc đứng sau với nguồn vốn và khả năng kỹ thuật cao hơn để hỗ trợ và ăn chia lợi nhuận theo vốn góp của các công ty cổ phần thôi.

9/ Bộ trưởng Trần Tuấn Anh, khi bàn về Nghị quyết 55, rất hào hứng về việc tư nhân tham gia sản xuất điện: “Chiến lược mới mở ra cơ hội lớn cho khối tư nhân phát triển năng lượng”. Ngoài ra, “Bộ Công Thương muốn bổ sung 12 dự án điện gió, điện mặt trời vào quy hoạch”. Xin ông bàn về quan điểm của Bộ trưởng Trần Tuấn Anh. Việc bổ sung 12 dự án điện gió, điện mặt trời “Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia” có tác động của nhóm lợi ích nào không?

TS. Tô Văn Trường: “Nhân vô thập toàn”, nên bất cứ ai khi tham gia công tác quản lý nhà nước cũng không tránh được các khiếm khuyết là điều dễ hiểu. Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh là người được đào tạo bài bản, thuộc tầng lớp kỹ trị, nắm chắc chức năng nhiệm vụ của ngành, thông thao ngoại ngữ Anh, Pháp, biết lắng nghe ý kiến phản biện xã hội. Tuy nhiên, trong quá trình phải giải quyết nhiều bất cập của người tiền nhiệm để lại nên thời gian ban đầu không tránh khỏi những lúng túng vì “đụng chạm” nhiều.

Việc bổ sung 12 dự án điện gió, điện mặt trời vào quy hoạch là hướng đi đúng (giống như tinh thần chỉ đạo gần đây trong Nghị quyết 55 của Bộ Chính trị về chiến lược phát triển năng lượng).

10/ Trên RFA cũng có bài bàn về Nghị quyết 55: “Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia có thể khiến giá điện tăng”. Bài này tường thuật lời của “Tiến sĩ Ngô Đức Lâm, chuyên gia năng lượng độc lập thuộc Liên minh Năng lượng bền vững Việt Nam; nguyên Phó viện trưởng Viện Năng lượng”, cho rằng một trong những vấn đề của Nghị quyết 55 này là giá điện sẽ tăng. Theo ông thì sao? Tại sao Chính phủ chưa cho phép giá điện được điều chỉnh theo địa phương? Địa phương nào được lợi nhất từ chính sách này?

TS. Tô Văn Trường: Nghị quyết đặt ra vấn đề không thực hiện bù chéo giá điện giữa các nhóm khách hàng, giữa các vùng miền. Đây là định hướng quan trọng đưa lĩnh vực sản xuất và tiêu thụ năng lượng theo cơ chế thị trường một cách hiệu quả.

Giá điện tăng là đương nhiên. So với thế giới và khu vực, thì giá điện Việt Nam vẫn thuộc diện thấp. Vậy nên khi không còn những chuyện bù chéo giá điện theo nhiều cách khác nhau thì giá điện nhìn chung sẽ tăng lên.

Thị trường điện đi vào sự minh bạch hơn là một điều tốt. Khi đó giá điện sẽ đi theo các quy luật kinh tế thị trường và có thể sẽ tăng giảm theo giá đầu vào đặc trưng nhất là giá nhiên liệu chung trên thị trường thế giới.

Thực hiện nội dung này sẽ khắc phục được nhiều bất cập hiện nay. Rất vô lý khi Việt Nam có chiều dài hàng nghìn km với địa hình phức tạp, các khu công nghiệp, các thành phố có những đặc điểm khác nhau mà giá điện lại giống nhau. Cần xây dựng cơ chế giá truyền tải và từ đó minh bạch giá điện, chấp nhận giá điện khác nhau giữa các vùng miền, giữa các doanh nghiệp khác nhau về trình độ công nghệ sản xuất và xác định cơ chế hỗ trợ phát triển theo cách khác minh bạch hơn cho các vùng sâu, vùng xa và những vùng khó khăn.

Về điều chỉnh giá điện theo địa phương, các yếu tố kỹ thuật và chính sách chung chưa cho phép. Nếu điều chỉnh theo giá địa phương thì có thể những vùng xa, vùng sâu lại chịu giá điện đắt hơn và không có cơ hội phát triển kinh tế, xã hội.

11/ Ông đánh giá như thế nào về định hướng tăng tỷ lệ năng lượng sạch như điện mặt trời, điện gió trong Nghị quyết 55?

TS. Tô Văn Trường: Nghị quyết 55 đặt mục tiêu tăng tỷ lệ năng lượng sạch như điện mặt trời, điện gió trong quy hoạch phát triển năng lượng, lên đến 30% vào năm 2045. Đây là định hướng phù hợp với nhu cầu và khả năng hiện thực của thế giới.

Số liệu của EVN cho thấy, cả nước đã có 82 dự án điện mặt trời với tổng công suất 4.460 MW và đã hòa vào lưới điện quốc gia. Có nghĩa là công suất đặt điện mặt trời hiện nay đã chiếm 10% tổng sản lượng điện cả nước. Ngoài ra, khoảng 13 dự án đang được hoàn thành với tổng công suất 630 MW, được đưa vào hoạt động từ cuối năm 2019.

Tất nhiên, có nhiều vấn đề có thể được đặt ra từ quy hoạch này. Hình 1 dưới đây trong bài so sánh Việt Nam và Úc, cho thấy một điều là với một nước có tiềm năng năng lượng mặt trời lớn như Úc – một nước phát triển, tốc độ phát triển của năng lượng tái tạo (NLTT) của Úc tăng lên từ từ theo thời gian. Trong khi đó, ở Việt Nam, dưới tác động của chính sách giá NLTT thì công suất có sự tăng vọt một cách đột biến, trong bối cảnh quy hoạch lưới điện đồng bộ chưa được xem xét đầy đủ.

Đây là lý do của việc lưới điện ở Việt Nam không đáp ứng được nhu cầu truyền tải khi sự phát triển quá nóng và truyền thông của chúng ta vẽ ra viễn cảnh quá lớn về NLTT.

Nguồn: Vietnam has overtaken Australia in commissioned utility-scale solar photovoltaics (PV), according to Rystad Energy.

Tại các nước thuộc Liên minh châu Âu (EU), năng lượng tái tạo đã chiếm 18% (so với than là 15%) và sẽ lên đến 20% trong năm 2020. Năng lượng tái tạo làm giảm nhu cầu năng lượng hóa thạch ở EU là 13%, giảm đến 48% ở Thụy Điển, 36% ở Đan Mạch, 26% ở Phần Lan, 18% ở Áo,… Trong số đó, thủy điện chiếm một vị trí khá quan trọng với nhiều nước như: Thụy điển, Áo, Na Uy, v.v…

Việc tăng tỷ lệ năng lượng sạch phụ thuộc vào đặc tính nguồn năng lượng là thời tiết và không có khả năng lưu trữ, mang tính tận dụng nguồn ở những vùng tiềm năng nhiều hơn là khai thác nguồn trừ khi những giải pháp tích trữ năng lượng vốn cần đầu tư khá lớn như pin dự trữ, thủy điện tích năng được sử dụng kèm. Nguồn năng lượng tái tạo không xuất, nhập khẩu được mà chỉ có thể chuyển đổi thành điện năng để truyền tải tới nơi sử dụng. Vì vậy, có nên đặt ra mục đích tăng tỷ lệ năng lượng sạch lên như trong Nghị quyết hay là đặt vấn đề nghiên cứu xác định các vùng tiềm năng cao để tận dụng tối đa năng lượng sạch và với tiềm năng các nguồn đó thì có thể phấn đấu đạt được bao nhiêu % của hệ thống điện.

Điện sạch thường không ổn định, công suất phát chỉ khoảng 20% công suất lắp đặt, có thời điểm không phát được điện. Vì thế, phải có nguồn điện dự phòng có công suất tối thiểu bằng công suất điện sạch. Thường các nguồn dự trữ là nhiệt điện, không thể tích bằng ắc qui. Thủy điện tích năng là nguồn dự trữ khả dĩ hơn. Việc đầu tư cho điện dự trữ là tốn kếm, khiến giá thành điện tăng.

Việc duy trì sự ổn định của lưới điện và sự tích hợp đồng thời của nhiều nguồn năng lượng tái tạo không ổn định để phân phối trên toàn quốc là vấn đề kỹ thuật rất lớn và phức tạp. Để đảm bảo công suất cơ sở (công suất chạy nền) ổn định, buộc phải dựa vào các nhà máy thủy điện, nhiệt điện than và khí đốt, kể cả nhập khẩu điện.

Dưới đây là biểu đồ các nguồn năng lượng tái tạo và tỷ trọng tương ứng trong TPES – Tổng cung cấp năng lượng sơ cấp (bao gồm thủy điện lớn và nhỏ) đối với tất cả các kịch bản được phân tích.

Nguồn: Báo cáo triển vọng năng lượng Việt Nam 2019.

12/ Ông đánh giá như thế nào về việc chính sách phát triển nhiệt điện than trong Nghị quyết 55, so sánh với các nước khác trên thế giới?

TS. Tô Văn Trường: Nghị quyết 55 đặt ra yêu cầu phát triển điện than ở mức hợp lý, ưu tiên tổ máy công suất lớn, sớm nâng cấp công nghệ ở các nhà máy điện than hiện có là quan điểm đúng, bảo đảm các yêu cầu an ninh năng lượng, phát triển kinh tế của đất nước và bảo vệ môi trường, tuân thủ các công ước quốc tế có liên quan.

Xin lưu ý: Hiện nay, nhiệt điện than của Việt Nam mặc dù tính theo tỉ lệ phát điện chiếm 48% lượng điện phát ra bên cạnh 24% từ khí thiên nhiên và 27% từ thủy điện nhưng lượng phát điện chỉ là 13,42 Mtoe. So với Đức, Nhật, Mỹ, Trung Quốc v.v… thì những con số trên chỉ rất khiêm tốn (xem hình dưới).

Nguồn than hiện nay, mặc dù bắt đầu phải nhập khẩu, nhưng trữ lượng trên thế giới rất dồi dào, giá thành rẻ nên dễ đảm bảo an ninh năng lượng. Hầu hết các nước phát triển có nhập khầu năng lượng đều có phụ tải nền được đảm bảo bởi than, thủy điện, điện hạt nhân và khí nếu có nguồn sẵn có. Chúng ta đã khai thác thủy điện và nhiệt điện khí ở mức tối đa, vậy việc cần có thêm nguồn than là yếu tố tất yếu không tránh được. Tuy nhiên, cần cân nhắc mức độ nguồn trong tình hình tiềm năng từ năng lượng tái tạo và từ tiết kiệm năng lượng có tăng lên quan trọng do sự phát triển của khoa học – kỹ thuật để giảm dần nhiệt điện than gây ô nhiễm môi trường.

13/ Tại sao ông không so sánh Việt Nam với Thailand, Indonesia và Philippines (gần với trình độ và quy mô của Việt Nam) mà lại so với Trung Quốc Đức, Mỹ, Nhật?

TS. Tô Văn Trường: Không so sánh Việt Nam với Thái Lan, Indonesia, Philippines v.v… là do muốn thể hiện việc phát triển nhiệt điện than là chiến lược thông thường của nhiều nước trên thế giới, bao gồm cả các nước rất phát triển và rất coi trọng NLTT và giảm hiệu ứng nhà kính như Nhật, Đức, hay những nước có tiêu thụ năng lượng cực lớn trên thế giới như Mỹ, Trung Quốc.

Trong thực tế, nếu theo dõi chuyên sâu hơn có thể tìm được các thông số trên của tất cả các nước và thấy nó có cùng một quy luật là chính sách về phát triển điện than cần ở mức hợp lý, ưu tiên tổ máy công suất lớn, sớm nâng cấp công nghệ hiện đại ở các nhà máy điện than để đáp ứng về quy chuẩn bảo vệ môi trường là chính sách đúng đắn không phải đi ngược với xu thế thời đại. Đặc biệt hãy chú ý đến số liệu về công suất phát điện tuyệt đối của nhiệt điện than Việt Nam so với các nước này.

14/ Nghị quyết 55 đã định hướng phát triển năng lượng tái tạo, nhưng vẫn còn đặt vấn đề khai thác than ở Đồng bằng Sông Hồng. Xin ông cho biết quan điểm của mình về vấn đề này?

TS. Tô Văn Trường: Đây là vấn đề cần tiếp tục được bổ sung và làm rõ hơn trong Nghị quyết 55. Vấn đề là có nên khai thác không và nếu khai thác thì sẽ có những tác hại khó lường về môi trường và phải so sánh hiệu quả kinh tế với than nhập khẩu. Vì vậy, vấn đề “khẩn trương nghiên cứu công nghệ khai thác” như đã nêu trong Nghị quyết là chưa thật cần thiết.

Tỷ lệ dự trữ than ở hình 3 dưới đây nằm trong báo cáo “Situation Of Coal Used For Power Generation In Vietnam” của tác giả TS. Nguyễn Xuân Quang trình bày trong hội thảo “14th Multi-Pollutant Emission from Coal Workshop” tổ chức ngày 28- 30 tháng 10/2019 ở Hà Nội do Clean Coal Centre, IEA tổ chức. Bài trình bày có bản quyền của IEA được download tại www.mec-workshop.org.

Trữ lượng than của Đồng bằng Sông Hồng là loại than non (lignite) được dự đoán là rất lớn, chiếm tới 81% trữ lượng than của Việt Nam, lớn hơn rất nhiều nguồn than Antraxit hiện đang khai thác tại Quảng Ninh. Việc nghiên cứu để có thể khai thác nguồn than này nhằm đáp ứng nhu cầu năng lượng của Việt Nam trong quá trình tăng trưởng là cần thiết. Tuy nhiên, phải rất thận trọng để đảm bảo không gây ra ô nhiễm môi trường, cũng như tính kinh tế của vấn đề khai thác.

Việt Nam chúng ta khai thác than từ thời Pháp thuộc đến nay phục vụ cho phát triển kinh, tế xã hội hàng trăm năm phần lớn đều từ bể than Đông Bắc vùng Quảng Ninh, nay đã đến giới hạn gần hết. Trữ lượng than rất lớn ở Đồng bằng Sông Hồng được thăm dò đến nay chưa khai thác được do nó nằm ở độ sâu lớn, khai thác chưa hiệu quả và có thể dẫn đến ô nhiễm môi trường, do đó, mặc dù phát hiện ra mỏ này đã hơn chục năm nhưng việc khai thác chưa thề được thực hiện.

Tôi biết sự phát triển của khoa học – công nghệ luôn biến cái không thể thành có thể ở thời điểm thích hợp với nỗ lực thích hợp. Bởi vậy, việc nghiên cứu tìm tòi cách thức khai thác hợp lý luôn là điều cần thiết để chúng ta không bị lãng phí nguồn tài nguyên của đất nước.

Hiện nay, công nghệ khí hóa than ngầm dưới lòng đất đã được phát triển ở Úc và Mỹ để có thể khai thác than dưới độ sâu lớn, đồng thời có thể chôn lấp luôn CO2 sinh ra từ quá trình phát điện về khu vực đã khai thác nhưng công nghệ này mới được thực hiện thí điểm chưa mang tính thương mại.

Mặt khác mỏ than Sông Hồng lại nằm ở tỉnh Thái Bình đất chật người động, đất nông nghiệp thuộc loại đất thục, mầu mỡ, nếu khai thác mỏ than sẽ tác động rất lớn đến môi trường và xã hội. Phải thận trọng, nghiên cứu kỹ bài toán “trade-off” trả lời câu hỏi về chủ trương có bắt buộc phải khai thác mỏ than Sông Hồng không? Sau đó mới bàn đến công nghệ để tránh tình trạng “tiền mất tật mang” đã nhãn tiền ở Việt Nam.

15/ Ngoài ra, Nghị quyết 55 có thiếu sót gì không, nếu xét từ góc độ kỹ thuật?

TS. Tô Văn Trường: Chưa thấy Nghị quyết đề cập đến hệ thống bảo mật an ninh mạng internet trong hệ thống điện quốc gia. Có cơ quan nào kiểm soát được chất lượng thiết bị nhập khẩu, trường hợp nhà thầu có ý đồ xấu cài chip vào thiết bị điện nhập khẩu thì rào cản nào để phát hiện và ngăn chặn hiệu quả?

Ngoài ra, Nghị quyết 55 chưa có chỉ đạo định hướng địa phương về quỹ đất để phát triển hệ thống điện. Đây là khâu vướng nhất trong việc phát triển các dự án điện, đặc biệt là hệ thống lưới điện truyền tải hiện nay khi có xung đột thường xảy ra giữa chính quyền địa phương và doanh nghiệp.

Mặt khác, Nghị quyết cũng chưa có định hướng chỉ đạo về việc đưa các tiêu chí môi trường, quản lý các chất thải nguy hại, các chế tài thuế vào việc đánh giá hiệu quả các loại hình sản xuất điện và truyền tải điện.

Tóm lại, Nghị quyết 55 của Bộ Chính trị khi được triển khai sẽ có nhiều diễn biến tích cực trong ngành điện, tác động lớn đến sự phát triển ổn định, bền vững của ngành điện và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của phát triển kinh tế, xã hội ở Việt Nam. Tuy nhiên, để hoàn thiện chính sách, kế hoạch thực hiện và các biện pháp triển khai, bảo đảm sự tối ưu, chúng ta cần bổ sung và làm rõ những nội dung cần thiết như đã nêu trên./.

(Đón đọc kỳ tới…)
(*) TS. Tô Văn Trường là chuyên gia độc lập về tài nguyên và môi trường. Từ năm 1988 đến tháng 9/1996, ông là chuyên gia ở Ủy hội sông Mekong (MRC) Bangkok – Thái Lan. Từ 10/1996 – 1/2009 là Viện trưởng Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam.

3 thoughts on “Những vấn đề cần ưu tiên trong ‘Chiến lược phát triển năng lượng’ [Kỳ 16]

  1. Pingback: online viagra

Comments are closed.

You may have missed