Hội thảo lần thứ nhất Quy hoạch tổng thể về năng lượng quốc gia

21:42 |28/08/2020 –  Ngày 28/8/2020, tại Hà Nội, Bộ Công Thương đã tổ chức Hội thảo lần thứ nhất Quy hoạch tổng thể về năng lượng quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 (QHNL).   Phát triển nguồn điện trong Quy hoạch điện VIII và những thách thức trong lựa chọn Phát biểu tại Hội thảo, Thứ trưởng Bộ Công Thương – Đặng Hoàng An cho biết: Trong giai đoạn 2011- 2019, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam đã tăng trưởng nhanh so với các nước trên thế giới, với tốc độ tăng bình quân…

21:42 |28/08/2020 – 
Ngày 28/8/2020, tại Hà Nội, Bộ Công Thương đã tổ chức Hội thảo lần thứ nhất Quy hoạch tổng thể về năng lượng quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 (QHNL).  

Phát triển nguồn điện trong Quy hoạch điện VIII và những thách thức trong lựa chọn
Phát biểu tại Hội thảo, Thứ trưởng Bộ Công Thương – Đặng Hoàng An cho biết: Trong giai đoạn 2011- 2019, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam đã tăng trưởng nhanh so với các nước trên thế giới, với tốc độ tăng bình quân hàng năm đạt 6,3%. Trong đó, công nghiệp và xây dựng có mức tăng trưởng cao nhất với mức tăng trung bình 7,6%/năm, tiếp theo đó là khu vực dịch vụ với 6,9%/năm. Tốc độ tăng trưởng tương đối cao đã cải thiện nhanh thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam, đạt 2.800 USD/người năm 2019.

Thứ trưởng Bộ Công Thương – Đặng Hoàng An phát biểu tại Hội thảo.
Sau 15 năm thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25/10/2007 của Bộ Chính trị khoá X về “Định hướng Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2050, ngành năng lượng đã có bước phát triển nhanh, tương đối đồng bộ trong tất cả các phân ngành, lĩnh vực; bám sát định hướng và đạt được nhiều mục tiêu cụ thể đề ra.

Ngành năng lượng đã tích cực thực hiện chuyển đổi sang hoạt động theo cơ chế thị trường, hình thành được thị trường cạnh tranh ở một số khu vực trong thị trường điện, thị trường than, thị trường khí đốt. Qua đó, huy động được nguồn lực lớn cho đầu tư phát triển với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, trong đó, đóng góp của khu vực tư nhân ngày càng tăng. Ngành năng lượng trở thành ngành kinh tế năng động, đóng góp rất quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh tại nhiều địa phương và đất nước.

Tuy vậy, bên cạnh những thành tựu đạt được, ngành năng lượng vẫn còn nhiều hạn chế trong việc đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, sử dụng hiệu quả các nguồn năng lượng, phát triển đồng bộ hạ tầng năng lượng, thúc đẩy hoạt động của các thị trường năng lượng cạnh tranh, thu hút vốn đầu tư vào phát triển năng lượng, giảm thiểu các tác động tiêu cực đến môi trường, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tham gia sâu vào chuỗi cung ứng thiết bị năng lượng…

Theo Thứ trưởng Đặng Hoàng An, trong những năm tới xu thế phát triển năng lượng thế giới sẽ tập trung vào việc thúc đẩy mạnh mẽ chuyển dịch năng lượng, thực thi các chính sách mạnh mẽ chống biến đổi khí hậu và tăng cường an ninh năng lượng. Phát triển năng lượng của Việt Nam trong thời kỳ nhập khẩu rong năng lượng sẽ ngày càng chịu nhiều tác động của các xu thế phát triển năng lượng trên thế giới.

Bên cạnh đó, với vai trò là một quốc gia có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, Việt Nam cũng sẽ phải thực thi các cam kết về chống biến đổi khí hậu. Với việc càng ngày tham gia sâu rộng vào chuỗi cung ứng toàn cầu, Việt Nam sẽ phải đối mặt với cả những thuận lợi và khó khăn trong việc đảm bảo phát triển bền vững hệ thống năng lượng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội.

Theo đó, trong bối cảnh phát triển năng lượng quốc gia đòi hỏi phải có tư duy và các chủ trương, chính sách mới để phù hợp với xu thế và yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội. Bộ Chính trị đã chỉ đạo tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết 18- NQ/TW, ngày 25/10/2007 và xây dựng, ban hành Nghị quyết số 55-NQ/TW ngày 11/02/2020 về “Định hướng chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”. Nghị quyết số 55 đã đưa ra mục tiêu tổng quát và các mục tiêu bao trùm các vấn đề trọng tâm trong phát triển cùng với 10 nhóm nhiệm vụ và giải pháp mạnh mẽ và đột phá. Cụ thể như:

1/ Cung cấp đủ nhu cầu năng lượng trong nước, đáp ứng cho các mục tiêu của Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm 2021-2030 và tới năm 2045.

2/ Tỷ lệ các nguồn năng lượng tái tạo trong tổng cung năng lượng sơ cấp đạt khoảng 15-20% vào năm 2030; 25-30% vào năm 2045.

3/ Tổng tiêu thụ năng lượng cuối cùng đến năm 2030 đạt mức 105-115 triệu FOE, năm 2045 đạt mức 160-190 triệu TOE. Cường độ năng lượng sơ cấp năm 2030 đạt từ 420-460 kgOE/1.000 USD GDP, năm 2045 từ 375-410 kgOE/l.000 USD GDP.

4/ Xây dựng hệ thống lưới điện thông minh, hiệu quả, có khả năng kết nối khu vực; bảo đảm cung cấp điện an toàn, đáp ứng tiêu chí N-l đối với vùng phụ tải quan trọng và N-2 đối với vùng phụ tải đặc biệt quan trọng.

5/ Các cơ sở lọc dầu đáp ứng tối thiểu 70% nhu cầu trong nước; bảo đảm mức dự trữ chiến lược xăng dầu đạt tối thiểu 90 ngày nhập ròng.

6/ Tỷ lệ tiết kiệm năng lượng trên tổng tiêu thụ năng lượng cuối cùng so với kịch bản phát triển bình thường đạt khoảng 7% vào năm 2030 và khoảng 14% vào năm 2045.

7/ Giảm phát thải khí nhà kính từ hoạt động năng lượng so với kịch bản phát triển bình thường ở mức 15% vào năm 2030, lên mức 20% vào năm 2045.

“Đây là lần đầu tiên Việt Nam tổ chức lập Quy hoạch tổng thể về năng lượng, do đó, việc lập Quy hoạch cũng sẽ gặp nhiều thách thức trong việc đồng bộ và đảm bảo tính tương thích với các quy hoạch quốc gia trên và ngang cấp. Bên cạnh đó, việc đưa ra các cơ chế thực hiện quy hoạch trong giai đoạn mới cũng cần sự tham gia đóng góp ý kiến của nhiều bên liên quan” – Thứ trưởng Đặng Hoàng An nhấn mạnh.

Tiếp đó, tại Hội thảo, các cơ quan tư vấn báo cáo các nội dung đã thực hiện trong 5 chương đầu của đề án Quy hoạch. Trong đó, 3 cơ quan tư vấn được giao nhiệm vụ phối hợp thực hiện lập Quy hoạch là: Viện Năng lượng – Bộ Công Thương, Viện Dầu khí Việt Nam – PVN và Công ty Cổ phần Tư vấn Mỏ và Công nghiệp than – TKV. Việc quản lý thực hiện Đề án đã được Bộ Công Thương giao Vụ Dầu – Khí và Than chủ trì, đôn đốc, giám sát.

Ba đơn vị tư vấn đã trình bày 6 bài tham luận về các nội dung trọng tâm: Hiện trạng cung cầu năng lượng, tình hình thực hiện các quy hoạch phân ngành năng lượng, các khó khăn, tồn tại và các bài học kinh nghiệm trong Quy hoạch các ngành Điện, Than và Dầu khí giai đoạn vừa qua; Tiềm năng nguồn tài nguyên năng lượng; Phương pháp luận lập QHNL; Dự báo phát triển kinh tế – xã hội trong dài hạn và căn cứ cho dự báo nhu cầu năng lượng; Phương pháp lập báo cáo Đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC) tích hợp trong QHNL.

Mục tiêu chính của hội thảo là để tham vấn ý kiến đóng góp của các bên liên quan, các bộ, ban ngành, các viện nghiên cứu, các hiệp hội ngành năng lượng, các tổ chức quốc tế và các chuyên gia để đánh giá hiện trạng ngành năng lượng được đầy đủ, khách quan và củng cố phương pháp và các luận chứng trong việc lập Quy hoạch tổng thể năng lượng quốc gia; góp ý cho các nội dung của các chương đầu tiên, vốn có vai trò quan trọng quyết định tới định hướng QHNL và là tiền đề trong triển khai nghiên cứu 8 chương sau của Đề án.

Kết luận Hội thảo, Thứ trưởng Đặng Hoàng An nhấn mạnh: Quy hoạch tổng thể về năng lượng quốc gia được lập trong bối cảnh có thay đổi quan trọng là từ năm 2015 nước ta đã chuyển từ quốc gia xuất khẩu ròng năng lượng chuyển sang quốc gia nhập khẩu ròng năng lượng. Những định hướng mới về phát triển ngành Năng lượng đã được chỉ đạo trong Nghị quyết 55 của Bộ Chính trị là một cơ sở quan trọng trong lập QHNL. Theo đó, cần có những định hướng về sản xuất, tiêu thụ và nhất là nội dung quy hoạch nhập khẩu nhiên liệu/ năng lượng để phù hợp với bối cảnh mới.

Đồng thời, đánh giá cao những nỗ lực của các đơn vị tư vấn, trong thời gian gấp rút đã thực hiện được khối lượng nghiên cứu đáng kể và có chất lượng, nhưng cũng lưu ý là thời gian hoàn chỉnh Đề án QHNL chỉ còn vài tháng để Bộ Công Thương thẩm định và trình Chính phủ xem xét quyết định.

Theo Thứ trưởng Đặng Hoàn An, tiết kiệm và hiệu quả sử dụng năng lượng luôn là giải pháp đầu tư rẻ nhất, vừa giảm lượng vốn đầu tư, vừa giảm nhẹ các tác động ô nhiễm tới môi trường, nhưng có nhiều thách thức về công nghệ, thói quen mà cần được nghiên cứu để đề ra mục tiêu và các giải pháp đúng đắn. Các áp dụng khoa học công nghệ và tăng cường nguồn nhân lực cần được nêu rõ trong Quy hoạch.

QHNL cần thiết đề xuất về các cơ chế, chính sách, quy định mà Nhà nước sẽ ban hành để thực hiện được các mục tiêu Quy hoạch, vì đây là những yếu tố mang tính quyết định đến tính khả thi của Quy hoạch.

Cuối cùng, Thứ trưởng cũng rất quan tâm đến vấn đề môi trường, bảo vệ môi trường, và cũng mong muốn với phương pháp lồng ghép hiệu quả Báo cáo ĐMC trong QHNL của các đơn vị nghiên cứu, các phương án phát triển năng lượng song hành với giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường sẽ được thực hiện hợp lý, đầy đủ./.

PV TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM

You may have missed