Để Nghị quyết 55 của Bộ Chính trị sớm đi vào cuộc sống

15:21 |08/06/2020 –  Trên cơ sở nghiên cứu và tổng hợp gần 20 bài báo phản biện khoa học trong khuôn khổ tuyên truyền phổ biến Nghị quyết 55 của Bộ Chính trị về “Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia Việt Nam đến 2030, tầm nhìn đến 2045”, các chuyên gia, cán bộ khoa học – kỹ thuật trong Hội đồng Phản biện Khoa học của Tạp chí Năng lượng Việt Nam đã gửi tới Tổng Bí thư, Chủ tịch nước và Bộ Chính trị những kiến nghị tâm huyết về những công việc cụ thể mà các cơ quan quản lý…

15:21 |08/06/2020 – 
Trên cơ sở nghiên cứu và tổng hợp gần 20 bài báo phản biện khoa học trong khuôn khổ tuyên truyền phổ biến Nghị quyết 55 của Bộ Chính trị về “Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia Việt Nam đến 2030, tầm nhìn đến 2045”, các chuyên gia, cán bộ khoa học – kỹ thuật trong Hội đồng Phản biện Khoa học của Tạp chí Năng lượng Việt Nam đã gửi tới Tổng Bí thư, Chủ tịch nước và Bộ Chính trị những kiến nghị tâm huyết về những công việc cụ thể mà các cơ quan quản lý Nhà nước có thể xem xét thực hiện để sớm đưa Nghị quyết 55 vào cuộc sống.   

Tổng hợp gần 20 bài báo phản biện khoa học trong khuôn khổ tuyên truyền phổ biến Nghị quyết 55 của Bộ Chính trị.

Dưới đây là nội dung kiến nghị của Tạp chí Năng lượng Việt Nam:

I. Sử dụng năng lượng một cách tiết kiệm và hiệu quả:

Sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả đang là “chìa khóa vàng” để giải quyết vấn đề mất cân bằng năng lượng đang ngày một trầm trọng của nền kinh tế Việt Nam. NQ55 đã chỉ rõ: “Cường độ năng lượng sơ cấp năm 2030 đạt từ 420-460 kgOE/1.000 USD GDP, năm 2045 từ 375-410 kgOE/1.000 USD GDP”. Để đạt được mục tiêu này:

1/ Cần cấu trúc lại nền kinh tế theo hướng ít tiêu dùng năng lượng. Theo đó, cần sắp xếp/qui hoạch lại các ngành sản xuất trong nước theo hướng hạn chế tối đa các ngành tiêu hao nhiều năng lượng (đã, đang hưởng lợi không hợp lý từ giá năng lượng thấp). Đồng thời, cần hạn chế tối đa (và tiến tới cấm) việc xuất khẩu các sản phẩm tiêu hao nhiều năng lượng – đó cũng là những sản phẩm có hàm lượng khoa học thấp, nhưng gây ô nhiễm môi trường cao như luyện kim, phân hóa học, xi măng, vật liệu xây dựng v.v…

2/ Cần ưu tiên sử dụng nguồn năng lượng thứ cấp (điện năng) để thay thế cho các nguồn năng lượng sơ cấp (than, xăng, dầu, khí đốt) theo hướng “điện khí hóa toàn quốc” như V.I. Lê Nin đã đặt ra trong “Chính sách kinh tế mới”.

3/ Tăng cường việc kiểm soát của Nhà nước về việc sử dụng và nhập khẩu các công nghệ tiên tiến, ít tiêu hao năng lượng trong tất cả các ngành sản xuất, đặc biệt trong lĩnh vực giao thông vận tải. Cương quyết cấm nhập khẩu các công nghệ/thiết bị lạc hậu, để không biến các doanh nghiệp Việt Nam thành các “bãi thải công nghệ”.

4/ Cần khuyến khích (bằng các công cụ kinh tế) việc sử dụng tiết kiệm, hiệu quả điện năng, đặc biệt trong khu vực dân cư và các tòa nhà công sở.

5/ Tuyên truyền để người dân hiểu: Việt Nam là một quốc gia tiêu hao nhiều năng lượng trên mức cần thiết, trong khi đó, chúng ta là một quốc gia nghèo về nguồn tài nguyên năng lượng (rất nghèo so với mức bình quân của thế giới).

II. Phát triển tối ưu các nguồn năng lượng truyền thống trong nước:

Phát triển tối ưu các nguồn năng lượng truyền thống trong nước trên cơ sở nắm chắc tiềm năng của các nguồn tài nguyên năng lượng, theo hướng:

1/ Đầu tư có trọng điểm cho công tác thăm dò, tìm kiếm các nguồn tài nguyên năng lượng: than, dầu mỏ, khí đốt, uranium (đặc biệt là việc khảo sát, thăm dò, khai thác các nguồn dầu mỏ và khí đốt trên thềm lục địa, kết hợp với việc bảo vệ chủ quyền biển đảo). Trên cơ sở đó, việc qui hoạch phát triển các ngành năng lượng cần phải (và chỉ nên) dựa vào các nguồn tài nguyên, trữ lượng chắc chắn, tin cậy, khả thi, tránh tình trạng “đếm cua trong hang”.

2/ Đồng thời, Nhà nước cần chủ động đánh giá lại và đánh giá chính xác tính khả thi về mặt kinh tế của các nguồn năng lượng tái tạo (thủy năng, năng lượng gió, năng lượng mặt trời, năng lượng sinh khối, năng lượng địa nhiệt) để qui hoạch phát triển các nguồn năng lượng này một cách có cơ sở khoa học, kinh tế. Tránh tình trạng “hô khẩu hiệu suông” và gây khó khăn cho việc huy động nguồn vốn của tư nhân như hiện nay.

III. Về ngành công nghiệp than:

Để ngành công nghiệp than Việt Nam duy trì được sản lượng, cần thực hiện các giải pháp tháo gỡ ở tầm vĩ mô. Theo đó:

1/ Các trữ lượng than đã được thăm dò cần được ưu tiên để qui hoạch phát triển ngành than trước khi qui hoạch phát triển các công trình trên mặt đất. Hạn chế tối đa việc bỏ lại vĩnh viễn trong lòng đất những vỉa than còn có khả năng khai thác hiệu quả bằng các công nghệ hầm lò hiện có (tới độ sâu -1000 mét).

2/ Giấy phép thăm dò cần được Nhà nước cấp theo chiều sâu tầng chứa than để doanh nghiệp chủ động công tác thăm dò, tránh phải khoan thăm dò lại từ đầu để giảm chi phí thăm dò; Quyền khai thác than cũng cần được cấp hết theo chiều sâu của tầng chứa than (cấp phép đến đáy tầng chứa than) để doanh nghiệp chủ động trong công tác đầu tư tái sản xuất mở rộng. Xóa bỏ tình trạng cấp phép theo kiểu “băm nhỏ” các khoáng sàng than như hiện nay.

3/ Đổi mới chính sách thuế, phí theo hướng giảm, nhằm khuyến khích việc khai thác tận thu tối đa tài nguyên than vốn rất có hạn và tạo điều kiện nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành than.

4/ Khôi phục việc dự trữ than quốc gia bắt buộc để kịp thời đối phó với những rủi ro trong việc nhập khẩu than đang ngày càng tăng nhanh và những biến động cực đoan của thời tiết.

IV. Về ngành công nghiệp dầu khí:

“Nút thắt” cơ bản trong phát triển dầu khí của Việt Nam chủ yếu liên quan đến đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam và đầu tư của doanh nghiệp Nhà nước. Trên cơ sở cân nhắc các khía cạnh địa – chính trị, Nhà nước cần sớm điều chỉnh đồng bộ Luật Dầu khí, Luật Đầu tư, Luật Xây dựng, Luật Quản lý sử dụng vốn Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp, Luật Đấu thầu, cũng như các luật liên quan phù hợp với tình hình mới của ngành dầu khí trong nước và ngành dầu khí trên thế giới. Theo đó:

1/ Luật Dầu khí điều chỉnh toàn bộ hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí, đầu tư trong nước, cũng như của nước ngoài, dành ưu đãi phù hợp để thu hút đầu tư nước ngoài, nhằm tìm kiếm các đối tác chiến lược quốc tế sẵn sàng chia sẻ, hợp tác lâu dài với Dầu khí Việt Nam.

2/ Các luật khác điều chỉnh sao cho đầu tư của doanh nghiệp Nhà nước trong lĩnh vực dầu khí được chủ động, linh hoạt, phản ứng kịp thời với biến động thị trường và điều kiện tài nguyên dầu khí. Cần tách biệt chức năng bảo toàn, phát triển vốn với điều hành sản xuất, kinh doanh và khuyến khích các thành phần kinh tế khác cùng tham gia đầu tư vào dầu khí.

3/ Khung pháp lý cần tách biệt chức năng quản lý Nhà nước và chức năng sản xuất, kinh doanh; tách bạch các trách nhiệm xã hội với nhiệm vụ bảo toàn vốn, phát triển doanh nghiệp cùng với chính sách tài chính, thuế, phí hợp lý.

4/ Tạo điều kiện thuận lợi cho Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) có quyền tự chủ cần thiết và có đủ nguồn vốn đầu tư đáp ứng nhu cầu hoạt động tìm kiếm, thăm dò, phát triển mỏ và chế biến dầu khí.

V. Về các nguồn năng lượng tái tạo:

Cần được qui hoạch phát triển phù hợp với các điều kiện kinh tế – kỹ thuật của hệ thống điện Việt Nam (sức mua của các hộ dùng điện và nhu cầu vận hành ổn định của hệ thống điện). Theo đó:

1/ Về thủy điện: Theo tiêu chuẩn đánh giá của quốc tế, tiềm năng nước ngọt (tính theo đầu người) của Việt Nam thấp hơn mức bình quân của thế giới. Trong đó, 70% phụ thuộc vào các nguồn nước tại lưu vực các sông của nước ngoài. Vì vậy, việc phát triển thủy điện của Việt Nam – một quốc gia được coi là nghèo về nước ngọt, cần kết hợp hai mục tiêu: Đảm bảo “an ninh năng lượng” và “an ninh nước ngọt”. Theo đó:

a) Các dự án thủy điện lớn (>100 MW) đã được đầu tư chủ yếu bằng vốn Nhà nước đã và đang phát huy vai trò chủ đạo trong việc cung cấp điện cho nền kinh tế với giá thành điện thấp và tham gia điều tiết lũ, cũng như chủ động cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp rất hiệu quả.

b) Các dự án thủy điện vừa (>30MW) được xây dựng (chủ yếu bằng nguồn vốn xã hội hóa) trên các sông ở cả 3 miền, ít bị phụ thuộc vào các lưu vực nước ngoài đang góp phần khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên nước có hạn và tham gia vào việc cung cấp điện thông qua thị trường bán buôn.

c) Các dự án thủy điện nhỏ (

You may have missed